Thứ Năm, 10 tháng 10, 2013

Trở về những Ngã ba Đồng Lộc.

Người tài xế qua “cửa tử” Ngã ba Đồng Lộc năm xưa nay tuổi đã ngoài bảy mươi. Những ngày này, khu mộ 10 cô gái thanh niên xung phong tuổi đôi mươi luôn có những vòng hoa trắng, những nén hương khấn nguyện.

Đất bạc màu thiếu nước cấy lúa phải tìm ra nước. Tăng viện cho Đồng Lộc không đủ, nhiều người phải lầm lũi vào rừng tìm củ mài.

Tôi hỏi đồng chí chủ toạ UBND xã Võ Đức Lợi: “Khôi phục lại sau chiến tranh, đi lên từ hai bàn trắng tay, chắc dân khó nhọc lắm, phải không anh?”. Những đội viên pháo thủ, những lái xe “ngẩng đầu cao thuần khiết tuyệt vời”. Đây là thời kỳ mọi người đều chung nỗi khổ như nhau. Đồng Lộc xanh lên từ đất lửa  Về địa chỉ Anh hùng xã Đồng Lộc, ai ai cũng thấy lòng mình như dịu lại khi nhìn ngọn đồi xoai xoải đã phủ kín mầu xanh của cây trái.

Chính những lúc cam go này, lãnh đạo huyện Can Lộc đã có quyết định đúng đắn, dồn sức xây dựng công trình thủy lợi Cửa Thờ - Trại Tiểu với trữ lượng 19 triệu m3, đủ cung cấp nước tưới cho hơn 190 ha lúa ở xã Đồng Lộc và hàng trăm ha lúa của bốn xã vùng lân cận.

Mạnh bạo vay vốn nhà băng đầu tư thâm canh. PHAN THẾ CẢI. Nhiều người vẫn nhắc tới Vương Đình Nhỏ, Nguyễn Tri Ân, Nguyễn Tiến Tuẩn. Không chỉ có lúa từ núi đồi, nương bãi, ở đâu đất cũng được bàn tay siêng năng, cần mẫn đánh thức dậy.

Chính quyền và người dân Đồng Lộc hôm nay đang chung sức, chung lòng dựng xây quê hương ngày một no đủ, giàu đẹp trên chính mảnh đất ghi dấu chiến công anh hùng năm xưa.

Không ai có thể ngờ rằng vùng đất đồng khô cỏ cháy, hậu quả nặng nề chiến tranh ở xã Đồng Lộc đã đạt bình quân 55 tạ/ha. Hành hương về địa chỉ đỏ  Nhắc tới “Ngã ba Đồng Lộc” ai cũng bồi hồi xúc động và tự hào. Thế là sau năm khởi đầu của thế kỷ 21, xã Đồng Lộc đã vững thế mới trong một tư duy sáng tạo, một niềm tin mãnh liệt vào chính sách, đường lối đổi mới của Đảng.

Tôi gặp anh Nguyễn Đình Ái (xóm 4, Đồng Lộc) một người Mạnh dạn làm ăn kinh dinh ba ha keo và bạch đàn, cùng với chăn nuôi hàng trăm con lợn, gà, hàng chục con bò, mỗi năm thu nhập hơn 200 triệu đồng.

Nhà trồng thêm ngô, người trồng thêm lạc. 45 năm đã qua, mọi đau thương đã lùi vào quá cố. Tiền không, nhà cửa không, trâu bò không. Có những người đã một thời chiến trận khi trở về với miền ký ức, họ chỉnh trang lại quân phục cũ, gắn trên ngực huân, huy chương. Những dòng nước ngọt theo mương về ruộng, bỏ lại đằng sau lũy tre làng một dĩ vãng nghèo đói, bỏ lại đằng sau bóng vía những người dân với đôi mắt lo âu khi gió phơn tây nam hầm hập quạt lửa.

Chỉ riêng trong bảy tháng năm 1968, chúng đã ném xuống Đồng Lộc gần 50 nghìn quả bom”. Lúc nớ có được sắn, khoai, môn ăn trừ bữa cũng đã hạnh phúc lắm rồi. Kỷ vật thiêng này do một đơn vị bộ đội đã dày công giữ gìn và gửi tặng. Có được nguồn lương thực ổn định, nhiều gia đình không chỉ ăn no, mặc ấm mà còn tự tìm cho mình một con đường làm giàu chính đáng bằng chăn nuôi, bằng kinh tế trang trại, bằng mở mang dịch vụ kinh doanh tổng hợp.

Mùa gặt thóc dát đầy sân phơi, ngô, lạc, đậu, vừng. Đôi mắt trũng sâu với trăm điều lo toan tranh đấu với thiên tai. Họ hát lại bài ca một thời đã hát, băng qua những ngọn đồi, con suối một thời đã qua. Mạnh bạo đổi thay ngay những bộ giống lúa năng suất thấp, bằng những giống mới có năng suất cao. Để hòng làm tắc nghẽn huyết mạch này, không lực Hoa Kỳ đã dùng đủ mọi thứ bom, huy động hàng loạt máy bay tối tân nhất để biến Đồng Lộc thành “túi đựng bom”.

Còn đây dũng sĩ lái máy gạt Uông Xuân Lý. Đau thương và mất mát nhiều thật, nhưng lòng nhân ngãi, tình thôn xóm thì giàu lên gấp bội.

Người cựu chiến binh đưa bàn tay thô ráp choàng vai tôi nhắc tới sự ác liệt trong chiến tranh, ông bảo: “Chú tính thử xem bình quân mỗi tháng chúng ném bom tới 28 ngày, có ngày phản lực Mỹ nhào tới 103 lần và thả 800 quả bom thì đá cũng bị xay thành bột chứ nói chi khoai, lúa ở trên đồng. Năm 1997, xã Đồng Lộc là một trong những địa phương đầu tiên của huyện Can Lộc từ sản xuất hai vụ lúa chuyển sang ba vụ lúa.

Người nông dân Đồng Lộc đã có những cung cách làm ăn mới trên thửa ruộng khoán của mình. Đồng Lộc đã có một cuộc “cách mạng” về liên lạc nông thôn và thủy lợi. Bao lăm người đã ngã xuống và những nhân chứng lịch sử vẫn còn đây. Vì lẽ đó mà họ gồng mình trước những thử thách mới”. Chiến tranh đã qua, những khẩu pháo của các anh giờ nằm trong nhà bảo tồn, nhưng đồng đội và người dân cả nước mãi ghi ơn 122 người con can đảm ngã xuống cho mảnh đất này bình yên.

Sáng nay, chúng tôi đặt chân tới Khu di tích Ngã ba Đồng Lộc, đã gặp ngay trước cổng hai chiếc xe ô-tô một thời nhiều lần qua ngã ba này chở hàng ra chiến trường, toàn xe phủ kín lá ngụy trang. Anh Lợi nói: “Tháng 4-1975, sau khi nước nhà hợp nhất, những người dân xã tôi mới từ vùng quê sơ tán trở về sinh sống. Quang vinh nào trong trận mạc mà không phải đánh đổi bằng xương máu.

Cuộc tiến công vào “xóa đói, giảm nghèo” mọi người hăm hở xắn cao tay áo: Đất chua mặn tìm cách tẩy trừ chua mặn.

Ông quên sao được Ngã ba Đồng Lộc, một con đường chiến lược vận tải quan trọng bậc nhất mà kẻ địch tìm mọi cách phong toả và chốt chặn. Còn đây Anh hùng La Thị Tám, người đứng trên đỉnh núi Mòi “đếm từng loạt bom rơi”.

Các gia đình dựng lều tranh ở tạm, trong lúc này cả nước thiếu lương thực nghiêm trọng. Ăm ắp chum vại. Việc “phẫu thuật” và “chỉnh hình” cho đất, người dân phải đổ mồ hôi tới ba năm ròng. Về với Đồng Lộc, vớ cùng ngước lên Tượng đài chiến thắng để soi lại mình, thức dậy những kỷ niệm còn tươi rói, nụ cười đồng đội, chân dung đồng đội. Tuổi xanh cũng trong y phục mầu xanh, vành mũ tai bèo.

Còn anh Nguyễn Văn Đức (xóm Thương Liên), tận dụng hình khe thế núi để thiết lập trang trại trồng 10 ha keo tai tượng và chăn nuôi tổng hợp, thu nhập mỗi năm gần 500 triệu đồng. Con đường bùn lầy nước đọng lổ đổ dấu chân trâu ngày xưa từ các lối xóm, nay đã được trải thảm nhựa. Xóa đi những tầm nhìn eo hẹp trong làm ăn manh mún. Còn đây những cựu thanh niên xung phong, những công nhân liên lạc vận chuyển san lấp hố bom, vác đá vá đường.

Trung đoàn 210 pháo cao xạ liên tục 148 hôm mai bám trụ ở Ngã ba Đồng Lộc, quần nhau với lũ giặc trời. Bao nhiêu “cuộc chia ly màu đỏ” bây chừ trở lại Đồng Lộc ai chẳng có một nỗi niềm tây. Xe húc, xe ủi và đội công binh lại tiếp tục dò xét, phá dọn bom, mìn còn âm ỉ trong lòng đất. Với khát vọng giang san độc lập, hòa bình, họ xem cái chết nhẹ như lông hồng. Dòng người về Đồng Lộc ngày mỗi dài thêm.

Từ năm 1976 đến 1979, xã Đồng Lộc khai mạc “mũi đột phá” quy hoạch lại đất đai, thôn trang, cải tạo đồng ruộng.

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét